Muôn Dặm Không Mây

CẢM THỨC VỀ XUÂN CỦA CÁC THI SĨ VÀ THIỀN SƯ (PHẦN 2)

sắc xuân

 

Thiền sư cũng là một con người, một thi nhân; vậy thì không có lý do gì khiến họ không thưởng thức cái đẹp mà tạo hóa ban cho:

 “Thụy khởi khải song phi,                                         

Bất tri xuân dĩ quy.                                                      

Nhất song bạch hồ điệp,                                              

Phách phách sấn hoa phi”.         

(Xuân hiểu – Trần Nhân Tông)                             

      

“Ngủ dậy ngỏ song mây,

Xuân về vẫn chưa hay.

Song song đôi bướm trắng,

Phất phới quện hoa bay”.         

(Ngô Tất Tố dịch) [1]

Mới đọc bài thơ, ta có cảm tưởng mùa xuân ở đây dường như âm thầm trở về, vì không có một dấu hiệu nào báo trước. Và cũng không rõ là do xuân đến một cách âm thầm nên người ta không nhận ra hay vì đắm say trong giấc ngủ mà không biết xuân đã về, mãi đến lúc nhìn thấy “Song song đôi bướm trắng, phất phới quện hoa bay” mới khiến cho người ta biết chắc xuân đã thực sự trở về.

Rõ ràng là mùa xuân đã đến rồi, chứ không phải đợi đôi bướm xuất hiện hay hoa nở xuân mới đến. Câu “Ngủ dậy ngỏ song mây, xuân về vẫn chưa hay” chỉ là một cách nói, để tạo ra một sự yên lặng của cảnh vật chung quanh, từ đó làm nổi bật lên sự nhộn nhịp của vạn vật khi xuân sang, cụ thể ở đây là đôi bướm trắng bay tìm hoa. Mùa xuân ở đây được miêu tả tuy rất giản đơn, chỉ thể hiện qua đôi bướm tìm hoa nhưng cũng đủ làm rõ được sự nhộn nhịp, vui tươi của lòng người và cảnh vật.

Thực sự thì cảnh xuân còn bao nhiêu thứ khác nữa, chứ đâu chỉ có thế:

 “Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,                           

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.                            

Khách lai bất vấn nhân gian sự,                                

Cộng ỷ lan can khán thúy vi”.                                    

(Xuân cảnh – Trần Nhân Tông)

 

“Chim nhởn nha kêu liễu trổ đầy,

Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay.

Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,

Cùng tựa lan can nhìn núi mây”.                              

(Huệ Chi dịch) [2]

 Khởi đầu của bài thơ trước có phần trầm lặng bao nhiêu thì khởi đầu bài thơ này nhộn nhịp, vui tươi bấy nhiêu; bởi lẽ cảnh vật ở đây có vẻ sôi động hơn nhiều. Tuy rằng mùa xuân được miêu tả có chim hót lếu lo, có hoa thơm cỏ lạ nhưng giọng điệu chủ đạo của bài vẫn chứa đựng cái tinh thần trầm lắng và nhàn nhã chứ không huyên náo, ồn ào. Đọc hai câu thơ đầu, ta dễ dàng nhận thấy ngay sức sống mới đang tuôn chảy trong vạn vật, mọi thứ đều chuyển mình khi xuân đến. Cảnh vật ở hai câu này đều trong trạng thái động, nhưng cái động này là để làm nổi bật cái trầm lắng và thanh nhàn ở câu sau:

“Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,

Cùng tựa lan can nhìn núi mây”

 Nếu như ở bài thơ trước dùng cái tĩnh lặng của mọi sự vật chung quanh để diễn đạt sôi động của mùa xuân, thì ở bài này dùng cái động của mùa xuân để tả cái thanh nhàn và u huyền của lòng người. Tinh thần siêu nhiên thoát tục thể hiện rõ ở việc khách đến chơi không quan tâm đến chuyện trần tục mà chỉ cùng nhau ngắm cảnh đẹp của mùa xuân. Chính lúc không để tâm vào những chuyện thị phi, đắc thất, thịnh suy… của cuộc đời mới có được trạng thái thanh nhàn và siêu thoát. Và từ đó mới có thể ngắm nhìn tường tận vẻ đẹp của vạn vật quanh ta.

Trong cái nhìn của Trần Nhân Tông, mùa xuân thật tươi đẹp nhưng không huyên náo, ồn ào mà rất nhàn tịch, thanh đạm. Nó đồng điệu với tâm hồn an lặng và siêu thoát của tác giả.

 

Khi tìm hiểu cảm nhận của các Thiền sư về mùa xuân, điều dễ dàng nhận thấy là các ngài cũng không chối từ hay lẩn tránh vẻ đẹp mà tạo hóa ban tặng, thậm chí còn rất trân trọng món quà quý giá này. Mùa xuân đến, các Thiền sư cũng vui xuân, cũng ngắm hoa thơm cỏ lạ, cũng thưởng thức tiếng ca hát của chim muông như bao nhiêu người khác; nhưng chỗ đặc biệt của các Thiền sư là khi xuân ra đi lòng các ngài vẫn an nhiên và tự tại. Lý do nào đã tạo nên điều đó? Tuy thật sự quý trọng cái đẹp nhưng các Thiền sư không đắm nhiễm hay tham luyến cái đẹp, bởi các ngài nhận thức rằng mùa xuân là một hiện tượng tự nhiên nằm trong dòng sinh diệt. Xuân đến thì đón chào, xuân đi thì tiễn biệt, chẳng có chi phải bận lòng:

  

“Nht niên xuân tn nht niên xuân,                         

Dã tho sơn hoa k đ tân.                                        

Thiên hiu bt nhân chung c đng,                          

Nguyt minh phi v d hành nhân.                           

(Bổn Tịnh Thiền sư) [3]                                   

     

“Một năm xuân trọn một năm xuân,

Cỏ dại non hoa mấy độ tươi.

Trời sáng chẳng do chuông trống động,

Trăng trong đâu bởi khách đi đêm”.

(Thích Thanh Từ dịch) [4]

Hai câu đầu nói về xuân, hai câu sau nói về tính khách quan của vạn vật. Không đọc kỷ bài thơ, sẽ thấy chúng chẳng có quan hệ gì với nhau.

Tất cả các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ tồn tại một cách khách quan, chúng vận hành theo quy luật tự nhiên. Chẳng hạn chuông trống canh không điểm thì trời vẫn sáng, không có người đi đường vào ban đêm thì trăng vẫn cứ tròn và soi chiếu. Thời tiết đến, nhân duyên hội đủ thì vạn vật xuất hiện và tồn tại; khi thời tiết, nhân duyên phân tán thì vạn vật không còn hiện hữu nữa. Đó là tính khách quan của vạn vật.

Mùa xuân cũng vậy; nó đến đi theo quy luật tự nhiên, theo sự tuần hoàn của vũ trụ, tồn tại không dài hay ngắn hạn. Nếu chúng ta đem ý chí chủ quan của mình áp đặt vào sự vật, hiện tượng buộc chúng tồn tại và hoạt động theo mình thì không những chúng ta không gặt hái được kết quả như mong đợi mà còn chuốc lấy muộn phiền. Vì thể nghiệm được điều đó nên Thiền sư Bổn Tịnh không bận lòng đến cái sinh diệt, đến đi của mùa xuân. Ngài sống hài hòa và hướng thuận theo quy luật vận hành của vũ trụ, cho nên ngài có được sự tự tại và niềm an lạc trước dòng sanh diệt của cuộc đời. Quan niệm này là chỗ gặp gỡ giữa Thiền sư Bổn Tịnh và Giác Hải:

  

Xuân lai hoa đip thin tri thì,                                   

Hoa đip ưng tu cng ng k.                                      

Hoa đip bn lai giai th huyn,                                   

Mc tu hoa đip hướng tâm trì”.                                 

(Giác Hải Thiền sư) [5]                            

              

“Xuân sang hoa bướm khéo quen thì,

Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kỳ.

Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo,

Thấy hoa mặc bướm để lòng chi”.

(Ngô Tất Tố dịch)[6]

Hễ mùa xuân đến thì hoa thơm rộ nở, ong bướm cũng theo đó mà tụ hội về. Việc này xưa nay chưa từng thay đổi. Đứng trước vẻ đẹp của mùa xuân, Thiền sư Giác Hải chẳng ngần ngại thưởng thức, rồi cầm bút miêu tả. Nhưng không dừng lại ở đó, ngài còn nhìn thấy rõ bản chất của các hiện tượng trên là hư huyễn, chúng không trường tồn, không vĩnh hằng; tất cả hoa, bướm có đẹp đến mức nào thì cũng tàn phai theo thời gian. Chính vì lẽ đó mà Thiền sư chẳng vương vấn về sự tàn nở của hoa, sự ra đi hay trở lại của mùa xuân. Khi đối cảnh, tâm của Thiền sư rất bình lặng; nó tợ như tấm gương, sự vật hiện tượng nào đến trước gương thì gương phản chiếu hình ảnh của sự vật hiện tượng đó, nhưng khi sự vật hiện tượng đó ra đi thì gương không lưu hình ảnh của chúng lại và gương vẫn sáng soi bất động:

  “Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo,

Thấy hoa mặc bướm để lòng chi”.

 Biết thưởng thức cái đẹp là khó, nhưng thưởng thức cái đẹp mà lòng không say đắm và chiếm hữu nó thì càng khó hơn. Chỉ có những người nào nhìn đời, nhìn người bằng tuệ giác-vô ngã mới có được trạng thái như vậy. Bằng ngược lại, khi tiếp xúc với cái đẹp, lòng không những không được tự tại mà còn khởi lên tham sân, phiền não. Chắc chắn rằng vì nhìn cuộc sống bằng tuệ giác-vô ngã nên dù xuân thời gian đã ra đi mà lòng của các Thiền sư vẫn còn mãi một niềm vui vô tận: 

 Xuân nht xuân sơn lý,                                      

Xuân s tn giai xuân.                                        

Xuân quang chiếu xuân thy,                              

Xuân khí kết xuân vân.                                        

Xuân khách tình xuân đng,                                                                  

Xuân thi xuân cánh tân.  

Duy hu thc xuân nhân,                                   

Vn kiếp nguyên nht xuân.                              

(Phật Nhãn Thiền sư) [7]                                   

                   

“Ngày xuân, xuân trong núi,

Việc xuân thảy đều xuân.

Hồ xuân ánh xuân chiếu,

Khí xuân kết mây xuân.

Khách xuân lòng xuân động,

Thi xuân, xuân càng tươi.

Chỉ có người biết xuân,

Muôn kiếp một mùa xuân”.

(Thích Thanh Từ dịch)[8]

Bài thơ này rất đặc biệt, tất cả các câu đều có hai từ “xuân”, trừ hai câu cuối chỉ có một từ “xuân”. Chính vì chỗ mỗi câu đều được bố trí từ “xuân” như vậy nên tạo cho ta cảm giác mùa xuân đang trùm khắp vạn vật, dường như không nơi nào xuân không hiện hữu. Và từ “xuân” ở đây đã mở rộng biên độ nghĩa của nó, xuân còn là cái đẹp trong tự nhiên và cuộc sống.

Cái khéo của tác giả là chỉ dùng một vài hình ảnh cụ thể nhưng rất khái quát để diễn đạt tính khách quan và phổ biến của cái đẹp, của mùa xuân. Nhìn lên trên thì ta bắt gặp “xuân vân”, “xuân sơn”; nhìn xuống dưới thì ta thấy “xuân thủy”; ngoài ra còn có “xuân quang”, “xuân khí” đang bao trùm và soi sáng mọi nơi. Cả không gian: xa, gần, cao, thấp, rộng, hẹp… đều chìm ngập trong xuân. Nhưng không chỉ có thế, ở đây còn có sự giao hòa giữa cảnh vật và con người. Nếu như ở bốn câu đầu mùa xuân len lỏi vào vạn vật thì ở các câu sau mùa xuân thấm vào tận lòng người:

Xuân khách tình xuân động,

Xuân thi xuân cánh tân”.

Hai câu này bọc lộ rõ thần thái rạo rực và hạnh phúc trong lòng người trước cảnh tươi đẹp của mùa xuân. Cái tươi đẹp của mùa xuân hòa cùng nét thanh tú của con người làm cho đất trời thêm rực rở, và giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau. Xuân làm cho lòng người trẻ hơn, đẹp hơn; ngược lại hoạt động của con người làm cho xuân thêm ý nghĩa.

Đến hai câu cuối:

“Duy hữu thức xuân nhân,

Vạn kiếp nguyên nhất xuân”. 

Chữ “xuân” ở câu trên là chân lý, còn ở câu dưới nó có nghĩa là niềm vui, niềm hạnh phúc. Thực vậy, muốn có niềm vui muôn thuở thì phải hiểu rõ chân lý trong cuộc sống. Tức phải thấy được xuân thời gian thì hữu hạn, xuân có đến thì có ra đi, hoa có nở thì có tàn; mọi thứ đều nằm trong dòng sinh diệt, vô thường. Sống thuận theo dòng chảy của tự nhiên, xuân đến thì nghinh đón, xuân đi thì tiễn biệt. Có như thế lòng mới đạt được niềm an lạc vĩnh hằng, mới hưởng được “mùa xuân muôn thuở”.

Như vậy, các Thiền sư dùng tuệ giác để nhìn đời, nhìn cuộc sống. Trong mắt của mình, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều đổi thay, đều hư huyễn; cho nên sự sinh diệt của mùa xuân chẳng làm các ngài bận lòng. Thái độ sống của các Thiền sư là “Tùy duyên nhi bất biến, bất biến nhi tùy duyên”. Mùa xuân của dất trời không phải không đẹp nhưng cái đẹp đó chỉ là cái đẹp hữu hạn, cái đẹp thực sự, mùa xuân thực sự chính là chân lý cuộc sống.

 

Một điểm đặc trưng khác trong cái nhìn của các Thiền sư khi mùa xuân đến là từ sự nở tàn của hoa cỏ, sự sinh diệt của mùa xuân, sự biến đổi nơi thân thể của mình; các ngài nhận ra một chân lý phổ biến, tồn tại một cách khách quan trong cuộc đời. Chân lý ấy là: vạn vật và con người trên thế gian này đều chịu sự chi phối của nguyên lý vô thường. Từ nhận thức này, các Thiền sư không để tâm duyên theo vẻ đẹp và niềm vui giả tạo, hư huyễn của xuân thời gian mà an trụ vào cái đẹp tuyệt đối và niềm hỷ lạc nhiệm mầu của tâm xuân, của bản giác xuân ở lòng mình.

Ở phần trên, tuy có đề cập ít nhiều đến nhận thức của các Thiền sư về nguyên lý vô thường nhưng chưa đầy đủ lắm, vì chỉ bàn đến nhận thức của Thiền sư về tính chất hư huyễn, sự đổi thay của vạn vật, chứ chưa nói đến nhận thức của Thiền sư về sự đổi thay của con người. Lẽ dĩ nhiên, nguyên lý vô thường chi phối không chỉ đối với sự vật hiện tượng mà còn cả con người:

Xuân kh bách hoa lc,                                 

Xuân đáo bách hoa khai.                                

S trc nhãn tin quá,                                     

Lão tùng đu thượng lai.                                 

Mc v xuân tàn hoa lc tn,                           

Đình tin tc d nht chi mai.                    

(Mãn Giác Thiền sư) [9]        

 

“Xuân ruổi trăm hoa rụng,

Xuân tới trăm hoa cười.

Trước mắt việc đi mãi,

Trên đầu già đến rồi.

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai”.

(Ngô Tất Tố dịch)[10]

 Căn cứ trên ngôn từ thì bài này là một bài thơ xuân nhưng bên dưới lớp nghĩa đen của ngôn từ là một triết lý sống uyên áo. Bằng hình ảnh rất thi vị, Thiền sư Mãn Giác đề cập đến một năng lực hùng mạnh đang tác động cả vũ trụ vạn hữu, đó là nguyên lý vô thường. Trước hết, nguyên lý vô thường thể hiện ở vạn vật mà cụ thể là hình ảnh tàn nở của hoa cỏ khi xuân ra đi và trở về:

 “Xuân ruổi trăm hoa rụng,

Xuân tới trăm hoa cười”.

 Hình ảnh hoa tàn, hoa nở là hình ảnh rất đổi quen thuộc và giản đơn nhưng nó khái quát được sự biến đổi của vạn vật trước dòng chảy của thời gian. Kế đến là sự đổi thay nơi con người, biểu hiện cụ thể là sự đổi màu của mái tóc: “Trên đầu già đến rồi”. Nếu bài thơ mà dừng lại nơi đây, chắc chắn rằng nó sẽ mang đến cho mọi người cái cảm giác bất an và buồn chán; bởi lẽ mọi thứ tốt đẹp bên ta dường như đã ra đi hết, không còn thứ nào ở lại: mùa xuân cũng ra đi, hoa thơm cũng tàn phai, tuổi trẻ cũng không còn… May thay bài thơ vẫn còn tiếp những câu sau và mở ra một khung trời tươi sáng tuyệt vời:

 “Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai”.

 Lời thơ như vầng thái dương bừng lên giữa đêm trường u ám, xóa tan bao nhiêu lo lắng, nghi vấn trong lòng người. Cứ ngỡ rằng mọi thứ sẽ bị cuốn trôi theo dòng sinh diệt, cũng như sau xuân sẽ chẳng còn một đóa hoa nào tồn tại; nhưng trái lại quy luật tự nhiên, một nhành mai nghiễm nhiên tồn tại và tươi nở. Nhành mai hiện hữu trái với quy luật của tạo hóa, là biểu tượng cho cái chân thường, bất biến, tồn tại vĩnh hằng. Rõ ràng, trong cái vô thường vẫn tồn tại cái thường hằng; trong thân tứ đại hư huyễn này vẫn có cái không hư huyễn, đó là giác tánh của mọi người. Giác tánh vốn không sinh không diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, không tăng không giảm… không chịu sự tác động của nguyên lý vô thường.

Thể nhập giác tánh, trở về với giác tánh tức là trở về với mùa xuân trong cõi lòng mình, lúc ấy sẽ được an lạc và giải thoát. Đó mới là niềm vui chân thật phát ra từ tâm xuân của mọi người. Niềm vui này tồn tại vĩnh viễn, nó không giống niềm vui có được từ ba tháng xuân mang lại, niềm vui do ba tháng xuân mang lại rất ngắn ngủi, mong manh và sẽ chấm dứt khi mùa xuân ra đi. Mới hay rằng muốn hưởng được niềm an lạc vô tận; muốn ngắm nhìn, thưởng thức mãi sắc đẹp và hương thơm của nhành mai bất diệt với thời gian thì phải quay về an trụ nơi tâm xuân của mình.

Tóm lại, bài thơ chuyển tải một triết lý sống vô cùng sâu sắc. Bằng những hình ảnh hết sức sinh động, ước lệ; Thiền sư Mãn Giác đã cho chúng ta thấy rõ quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Trên thế gian này, hễ sự vật hiện tượng nào có hình tướng thì đều nằm trong sự tác động của nguyên lý vô thường; con người phải trải qua các giai đoạn: sinh, lão, bệnh, tử; sinh vật thì trải qua các quá trình: sinh, trụ, dị, diệt; sự vật hiện tượng thì trải qua các thời kỳ: thành, trụ, hoại, không. Nhưng trong cuộc đời tương đối này vẫn còn có cái tuyệt đối, không bị hư hoại với thời gian, không bị vô thường chi phối; đó chính là giác tánh của mọi người, được thể hiện bằng hình ảnh nhành mai nở muộn cuối xuân.

 

“Hữu sinh tắc hữu diệt, hữu hình tắc hữu hoại” là một quy luật, là một chân lý nhưng dường như không phải ai cũng nhận ra điều này. Nếu sớm nhận ra chân lý thì sớm đạt được sự tự tại và an lạc, còn ngược lại thì mãi chìm trong não phiền và đau khổ. Hãy lắng nghe Điều Ngự Giác Hoàng tâm sự:

Niên thiếu hà tng liu sc không,                  

Nht xuân tâm ti bách hoa trung.                   

Như kim khám phá đông hoàng din,              

Thin bn b đoàn khán try hng.                

(Trần Nhân Tông)                               

 

“Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,

Xuân sang hoa nở rộn tơ lòng.

Chúa xuân nay đã thành quen mặt,

Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng”.

 (Ngô Tất Tố dịch)[11]

Hướng về cái đẹp, truy tìm cái đẹp là thuộc tính của con người nhưng hướng về cái đẹp, thưởng thức cái đẹp mà không đắm nhiễm, không lệ thuộc vào nó mới là việc khó thực hiện. Thanh xuân là giai đoạn đẹp nhất của đời người, là giai đoạn đầy ấp những ước mơ, những dự tính cho tương lai và cũng là giai đoạn mà mọi người hướng tâm tìm cầu cái đẹp. Mỗi độ xuân về, lòng người thường dao động, tâm niệm thường xu hướng theo muôn hồng ngàn tía, cho nên mới nói: “Xuân sang hoa nở rộn tơ lòng”. Bản dịch tuy không xác thực nghĩa nhưng cũng bôc lộ hết cái rạo rực, hưng phấn trong lòng tuổi trẻ.

Nhưng đó là việc của quá khứ, hiện tại thì:

Chúa xuân nay đã thành quen mặt,

Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng”.

Trước kia, vì không tỏ ngộ được lẽ sắc không của cuộc đời nên rong ruổi theo cái đẹp hư huyễn. Còn bây giờ đã giác ngộ cuộc đời là giấc mộng, cái đẹp không trường tồn, vạn vật có sinh có diệt. Từ đó, tâm không còn rộn ràng và xao xuyến khi thấy hoa nở, xuân về; và tâm cũng không luyến lưu và tiếc nuối khi thấy hoa héo, cỏ tàn và mùa xuân ra đi. Hình ảnh “Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng” là thể hiện cho lòng bình thản, vô ngại trước cái sinh diệt của các sự vật hiện tượng trong cuộc sống.

Với cái nhìn thấu suốt bản chất của sự vật hiện tượng, Điều Ngự Giác Hoàng đã đạt được sự tự tại, vững chãi trước vòng sinh diệt của cuộc đời. Mùa xuân có đến hay đi, hoa có nở hay tàn cũng chẳng làm ngài bận lòng nữa, bởi lẽ ngài đã an trụ vào tâm xuân, vào Bản giác xuân và tận hưởng mùi hương nhiệm mầu của nhành mai bất diệt.

Sang các Thiền sư Trung Hoa, khi đem đối sánh với các Thiền sư Việt Nam, ta cũng thấy có sự đồng điệu trong cái nhìn về con người và cuộc sống:

 “Kh niên phùng thanh xuân,                          

Châu nhan ánh đào lý.                                     

Kim niên phùng thanh xuân,                             

Bch phát ym song nh.                                  

Nhân sanh tht thp niên,                                 

Tt nhược đông lưu thy.                                 

Bt liu bn lai tâm,                                          

Sanh t hà do ly.                                             

(Tống triều Quang Giác Thiền sư)            

 

“Năm trước gặp thanh xuân

Má hồng khoe đào lý.

Năm nay gặp thanh xuân,

Tóc bạc đầy cả mái.

Người đời tuổi bảy mươi,

Nhanh như dòng nước chảy,

Chẳng ngộ tâm nguyên sơ,

Sanh tử làm sao thoát”.

(Thích Thanh Từ dịch)[12]

Thời gian trôi đi, xuân hạ thu đông rồi lại xuân… cái thanh xuân của con người theo đó mà phôi pha. Năm trước đón xuân thì “má hồng khoe đào lý” nhưng năm nay đón xuân thì “tóc bạc đầy cả mái”. Giai đoạn từ thanh xuân sang già nua thật là mau chóng tợ như dòng nước chảy. Thực ra, chẳng phải đợi đến một năm chúng ta mới thấy sự già nua kéo đến, sự biến đổi đã diễn ra từng giây từng phút trong cơ thể mọi người. Thấy rõ nguyên lý vô thường chi phối con người như vậy nên Thiền sư Quang Giác đã khuyên mọi người để tâm vào việc truy tìm chân lý, chân lý ở đây là tâm nguyên sơ (bổn lai tâm), là giác tánh vốn có trong mỗi người chúng ta. Liễu ngộ được bản tánh ấy thì thoát khỏi dòng sinh tử, đó mới chính là mùa xuân miên viễn mà mọi người cần hướng đến.

Và tinh thần này, trước kia đã được thể hiện khá rõ ở Thiền sư Thiện Chiêu:

 “Như kim lc thp nht,                                  

Bch phát tương thôi xut.                               

Huyn cht t phù vân,                                      

Không tâm đng T Pht.                                 

Xuân lai bt tin hoa,                                        

Thu kh khi him vt.                                     

Cánh d tam thp niên,                                    

Miết nhiên như đin pht.                               

(Đường triều Thiện Chiêu Thiền sư)        

 

“Nay tôi sáu mươi mốt,

Tóc bạc đuổi nhau điểm.

Chất huyễn dường mây trôi,

Tâm không đồng Tổ Phật.

Xuân đến chẳng chê hoa,

Thu về nào ghét vật.

So cùng năm ba mươi,

Bỗng nhiên như điện chớp”.

(Thích Thanh Từ dịch)[13]

Quả thật, lời thơ dẫu có khác nhưng quan niệm thì hoàn toàn tương tự nhau. Mỗi khi xuân về là tuổi đời theo đó tăng lên, mái tóc xanh ngày nào bây giờ trở thành bạc trắng; thân tứ đại hư huyễn này cứ dần dần trải qua các giai đoạn sinh, lão, bịnh, tử. Nếu như ở bài thơ trước, Quang Giác xem kiếp sống con người trôi mau như dòng nước chảy thì trong bài này, Thiện Chiêu nhìn sinh mệnh con người qua nhanh như làn điện chớp. Cách ví dụ này làm cho người đọc cảm thấy đời người quá ngắn ngủi, mạng sống thật mong manh, chợt có rồi chợt không, không thể nào làm chủ được, hễ mang thân tứ đại thì không ai thoát khỏi sự chi phối của quy luật vô thường.

Bên cạnh đó, bài thơ còn cho thấy tinh thần tự tại và siêu thoát của Thiền sư trước sự đổi thay, sinh diệt của kiếp người:

Huyễn chất tỉ phù vân,

Không tâm đồng Tổ Phật.

Xuân lai bất tiện hoa,

Thu khứ khởi hiềm vật”.

Điểm then chốt của vấn đề là chỗ “Không tâm”, chính điều này đã tạo nên thái độ an nhiên, bình thản của Thiền sư. Hàm nghĩa của “Không tâm” có nhiều cấp độ cao thấp khác nhau, hoặc có thể hiểu là một trạng thái giác ngộ của nhà Thiền, hoặc có thể hiểu là tâm không thị phi, thiện ác, nhân ngã… Còn các câu “Xuân đến chẳng chê hoa, thu về nào ghét vật” chỉ là hệ quả của trạng thái “không tâm”, là biểu hiện của lòng tự tại mà thôi.

Tóm lại, mỗi khi xuân về, căn cứ vào các hiện tượng: đến đi của mùa xuân, tàn nở của hoa cỏ, biến đổi từ trẻ trung sang già nua của con người… các Thiền sư nhận thức rằng vạn vật và con người trên thế gian này đều nằm trong vòng chi phối của nguyên lý vô thường. Theo phàm tình, hễ thấy cái đẹp tàn phai sẽ khiến lòng người luyến tiếc, xót thương nhưng đối với các Thiền sư thì chưa từng có điều ấy. Hơn thế nữa, ở các ngài còn đạt được tâm trạng tự tại và an nhiên trước sự đổi thay của cuộc đời, bởi vì các ngài luôn sống trong niềm an lạc của tâm xuân chứ không trụ vào cái vui, cái đẹp của xuân thời gian.

 

 III.

Có thể nói, cái nhìn của các Thiền sư về mùa xuân có nhiều điểm khác biệt với những thi sĩ. Các thi sĩ đều rất phấn khởi khi xun về, lòng họ rộn ràng trước những sắc màu tươi đẹp của trăm ngàn hoa cỏ. Đối với họ, mùa xuân là mùa đẹp nhất, là giai đoạn tuyệt vời nhất; mùa xuân mang đến niềm vui và hạnh phúc. Chính vì thế nên mỗi khi xuân ra đi họ lại thương tiếc vô cùng vì mùa xuân ra đi có nghĩa là nguồn vui và cái đẹp không còn nữa. Do nhận thức như vậy nên khi xuân đến cảm thấy vui sướng bao nhiu thì khi xun đi nhận lấy buồn chán bấy nhiêu. Niềm hoài xuân và lòng thương tiếc cái đẹp luôn tồn đọng trong lòng thi sĩ khi xuân không còn ở lại với đời.

Bằng cái nhìn tuệ giác-vô ngã, các Thiền sư không say đắm cái đẹp hư huyễn, không tìm cầu cái vui giả tạm do xuân thời gian ban tặng, các ngài luôn an trụ trong cái hỷ lạc vĩnh hằng của tâm xuân, của Bản thể xuân.

Không phải các Thiền sư hờ hững, lạnh lùng với vẻ đẹp của mùa xuân, xuân đến các ngài cũng thưởng thức hoa thơm cỏ lạ; nhưng đồng thời các ngài nhận thức được rằng vẻ đẹp của xuân thời gian là vẻ đẹp hư huyễn, niềm vui mùa xuân thời gian mang lại là niềm vui không tồn tại dài lâu; vì vậy lòng các ngài rất tự tại, an nhiên trước sự ra đi của xuân thời gian. Mùa xuân mà các Thiền sư an trụ là tâm xuân, là Bản thể xuân. Chỉ có tâm xuân mới đem lại niềm hỷ lạc vĩnh hằng cho mọi người và chỉ an trụ ở tâm xuân mới có thể ngắm nhìn, mới có thể thưởng thức được cái đẹp trường cữu và mùi hương bất diệt của nhành mai khai nở muộn sau xuân.

 

Chùa Huệ Nghiêm, cuối đông Tân Mão

Đông Tùng


[1] Trần Lê Sáng (chủ biên),1997, Tổng tập văn học Việt Nam quyển 2, NXB KHXH Hà Nội, tr 337.

[2] Trần Lê Sáng (chủ biên),1997, Tổng tập văn học Việt Nam quyển 2, NXB KHXH Hà Nội, tr 341.

[3] Thiền sư Bổn Tịnh (?-761): Môn đệ Lục tổ, đời thứ I.

[4] Trích theo Thích Thanh Từ, 1991, Xuân trong cửa thiền, Thành hội Phật giáo Tp.HCM ấn hành, tr 74.

[5] Thiền sư Giác Hải (?-?): Đời thứ 10 dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

[6] Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, 1993, Thiền uyển tập anh, NXB Văn Học Hà Nội, tr 142.

[7] Thiền sư Phật Nhãn (?-1119): Hiệu Thanh Viễn, thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế đời thứ 11, đời thứ 15 sau Lục tổ.

[8] Trích theo Thích Thanh Từ, 1991, Xuân trong cửa thiền, Thành hội Phật giáo Tp.HCM ấn hành, tr 200.

[9] Thiền sư Mãn Giác (1052-1096): Dòng Vô Ngôn Thông.

[10] Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, 1993, Thiền uyển tập anh, NXB Văn Học Hà Nội, tr 95.

[11] Trần Lê Sáng (chủ biên),1997, Tổng tập văn học Việt Nam quyển 2, NXB KHXH Hà Nội, tr 341.

[12] Trích theo Thích Thanh Từ, 1991, Xuân trong cửa thiền, Thành hội Phật giáo Tp.HCM ấn hành, tr 67.

[13] Trích theo Thích Thanh Từ, 1991, Xuân trong cửa thiền, Thành hội Phật giáo Tp.HCM ấn hành, tr 268.

Cát Tường

Cát Tường đã viết 259 bài.