Muôn Dặm Không Mây

Phóng cuồng ngâm và phong thái của người rong chơi trời phương ngoại

dpnn 48

PHÓNG CUỒNG NGÂM

VÀ PHONG THÁI CỦA NGƯỜI RONG CHƠI

TRỜI PHƯƠNG NGOẠI

(Trích ĐẠO PHẬT NGÀY NAY số 48 (12/2014), Nxb. Phương Đông)

(THÍCH CÁT TƯỜNG)

1.

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) tên thật là Trần Tung, là con trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu. Năm 1251 Trần Liễu qua đời, ông được phong tước Hưng Ninh Vương. Thượng sĩ là học trò đắc pháp nơi thiền sư Tiêu Dao (thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông).

Tuy mang hình thức là tục gia cư sĩ nhưng thiền phong luôn rạng chiếu nơi ông, ông là một trong những nhân vật điển hình đạt được lối sống đạo – đời viên dung. Xã hội đứng trước nguy cơ xâm lượt của phương Bắc, bổn phận của một người trượng phu là vừa phải tề gia vừa phải cứu quốc. Trách nhiệm lớn lao đè nặng trên đôi vai, vậy mà ông không những hoàn thành tốt nghĩa vụ với đời mà còn viên mãn trên con đường minh tâm kiến tính. Thượng sĩ còn đóng vai trò là người khai đạo – người thầy khả kính của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Tác phẩm của ông để lại cho đời rất nhiều, được kết thành Trần Triều Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, có giá trị to lớn về văn học, thiền học, triết học… Có thể khẳng định, Tuệ Trung là ngôi sao bắc đẩu của Thiền tông nước ta thời Trần.

Cuộc chiến chống ngoại xâm phương Bắc lần thứ II kết thúc, Thượng sĩ được cử làm Tiết độ sứ trông coi quân dân ở đất Hồng Lộ. Thời gian sau, ông rời khỏi chốn quan trường về ẩn cư tại Dưỡng Chân Trang, thuộc ấp Tịnh Bang – thực ấp của vua ban. Phóng cuồng ngâm ra đời trong hoàn cảnh đó.

Phóng cuồng ngâm là một tác phẩm rất nổi tiếng của Tuệ Trung, thuộc thể loại ca ngâm. Ngay tựa đề của nó đã tạo nên một ấn tượng rất khác thường đối với người đọc.

“Phóng cuồng” là như thế nào? Về mặt nghĩa đen, “phóng” là thênh thang, khoáng đạt, “cuồng” là điên loạn, ngông nghênh. Như vậy, hàm nghĩa của “Phóng cuồng ngâm” ở đây có nghĩa là khúc ngâm ngông nghênh (không mang ý nghĩa điên loạn) chứa đựng tinh thần phiêu nhiên khoáng đạt, thong dong tự tại, không bị vướng mắc hay ràng buộc vào bất cứ điều gì từ thế tục.

Từ khi phục quốc (thế kỷ thứ X), văn hóa và tư tưởng nước ta vận hành theo tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Về hình thức trị quốc lấy Nho gia làm chủ đạo nhưng tư tưởng bên trong là sự dung hòa Nho – Lão – Phật. Cho nên ta thấy, có sự nhất quán trong vấn đề xuất – xử, dù là xuất thế hay xử thế thì trong tâm hồn của người Việt vẫn chứa đựng lòng yêu nước thương dân, tinh thần vị tha vô ngã, xem danh lợi thế gian là hư huyễn, giả tạm.

Ở Thượng sĩ, ta không khó nhận thấy điều đó, chất Lão – Trang, chất Phật – Thiền thấm nhuần nơi lối sống và tinh thần của ông.

2.

Phong thái bàng bạc tinh thần Lão – Trang

Trong chương 5, Đạo đức kinh, Lão tử nói: “Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản”.[1] (Đạo lớn thì lưu hành không ngừng, lưu hành thì đi xa, đi xa thì trở về) và chương 40: “Phản giả đạo chi động, nhược giả đạo chi dụng, thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô”[2] (Luật vận hành của đạo là quay trở lại lúc ban đầu, diệu dụng của đạo là khiêm nhu. Vạn vật trong thiên hạ từ có mà sinh ra, có lại từ không sinh ra). Từ đây cho thấy, tất cả sự vật hiện tượng trong vũ trụ hình thành, phát triển theo quy luật từ vô thành hữu, từ hữu trở về không và ngay nơi cực suy sẽ sinh ra thịnh vượng, nơi cực thịnh thì sẽ sinh suy yếu. Sống theo tinh thần của Lão – Trang, là sống thuận theo đạo, không để tư dục chi phối, không dành quá nhiều công sức của mình vào chuyện phù hư của thế gian: “Giữ chậu đầy hoài chẳng bằng thôi đi, mài cho bén nhọn thì chẳng bén lâu. Vàng ngọc đầy nhà làm sao giữ nổi, giàu sang mà kiêu là tự rước lấy họa. Công thành rồi thì nên lui về, đó là đạo trời”.[3]

Thượng sĩ chịu ảnh hưởng không ít từ tinh thần này:

“Đốt đốt phù vân hề phú quý

Hu hu quá khích hề niên quang

Hồ vi hề quan đồ hiểm trở

Phản nại hề thế thái viêm lương”.

Dịch:

“Ôi chà, giàu sang chừ mây nổi

Hỡi ơi, xuân xanh chừ ngựa qua

Chen chi chừ đường quan gai góc

Chịu sao chừ thói đời viêm lương”. (Lý Việt Dũng dịch)[4]

Tuổi xuân, phú quý, danh lợi, đường quan, tình đời là những thứ mà mọi người đều mong muốn có đầy đủ và bền lâu. Nhưng trong cái nhìn của Thượng sĩ thì tuổi xuân thì chóng vánh, giàu sang như mây nổi, tước vị là giả danh, tình người thì hư hao… Không có điều nào là điểm tựa bền chắc nên chẳng cần phải để tâm chí vào những thứ này. Đây chưa hẳn là tư tưởng thuần túy của Đạo gia, mà nhà Phật cũng có quan niệm tương tự như vậy, trong kinh Bát đại nhân giác nói: “Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngủ ấm vô ngã, sinh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ”. (Thế gian biến đổi, cõi nước không bền, bốn đại vốn không, năm ấm không ngã, sinh diệt đổi thay, giả dối không thật). Và trong cái nhìn dung hợp giữa Phật và Lão về nhân sinh quan như vậy, lại phảng phất thái độ xuất – xử theo tinh thần của Nho gia:

“Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết

Dụng tắc hành hề xả tắc tàng”.

Dịch:

“Chỗ sâu lội dấn chừ cạn vén

Dùng thì ra chừ bỏ thì náu”. (Lý Việt Dũng)[5]

Câu “Dụng tắc hành hề tắc tàng” là mượn từ câu “Dụng tắc hành, xả tắc tàng” của Khổng tử, tức là khi vua cần đến thì dấn thân giúp sức, lúc vua không dùng nữa thì ẩn cư.

Thật khó phân định cụ thể đâu là Nho, đâu là Lão, đâu là Phật trong tư tưởng và hành động của Thượng sĩ. Riêng trong khúc ngâm này, tinh thần Lão – Trang hiện bày đậm nét hơn, bởi lẽ ta không bắt gặp hình ảnh của một người từ quan về vui thú điền viên theo kiểu Nho gia mà chỉ thấy phong thái của một ẩn sĩ vui thú hải hồ theo nếp Đạo gia.

Và trên thực tế, Thượng sĩ luôn sống theo tinh thần tùy thuận theo lẽ tự nhiên (Đạo), không cưỡng cầu bất kỳ thứ gì. Cụ thể là sau khi đóng góp công sức to lớn vào hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, Thượng sĩ được thăng quan tiến chức nhưng ông không giữ quan vị dài lâu mà lui về, sống chan hòa với thiên nhiên, theo tinh thần “công thành thì nên lui về”. Bởi lẽ ông thừa hiểu “Vật hoặc tổn chi như ích” (Vật có khi bớt đi mà lại là thêm lên)[6], cho nên đạt gần đến cực điểm của công danh phú quý thì dừng lại phải lúc phải thời, chứ không xu hướng theo, nếu không dừng thì trong một thời gian ngắn sẽ suy kiệt, thoái trào. Chính vì lẽ đó, nên ông nhẹ nhàng cởi bỏ phú quý vinh hoa mà không chút đắn đo.

Có thể nói, Thượng sĩ ứng dụng khá triệt để quan điểm “Quả dục, thoái thân, phản phác, thuận tự nhiên” của Lão – Trang, nhờ vậy nên lúc nào ta cũng bắt gặp nơi ông một cốt cách ung dung đỉnh đạc của một ẩn sĩ Đạo gia:

“Thiên địa thiếu vọng hề hà mang mang

Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương

Hoặc cao cao hề vân chi sơn

Hoặc thâm thâm hề thủy chi dương”.

Dịch:

“Trời đất liếc trông chừ mênh mang

Chống gậy rong chơi chừ ngoài cõi xa

Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi

Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương”. (Lý Việt Dũng dịch)[7]

Đây là hình ảnh của của một Đạo sĩ đang rong chơi cùng thiên nhiên. Lúc thì lên tận núi cao để xem sự bao la của trời đất, khi thì ra biển cả để thấy sự bát ngát của trùng dương. Tầm mắt càng rộng càng dài, tâm hồn càng thanh càng tĩnh. Chỉ có người buông bỏ tình đời, không vướng thế sự mới có thể tận hưởng trọn vẹn cái tinh anh của đất trời, cái cẩm tú của non nước như vậy.

Thoái thân chừng như là xu hướng chung của nhân sĩ đời Trần chứ không riêng gì Tuệ Trung, nhưng điểm khác của Thượng sĩ là vấn đề không dừng lại ở hình thức mà là sự buông xả nơi lòng. Không phải là việc làm ngoài ý muốn, theo kiểu chẳng được vua trọng dụng, rồi đành lui gót ẩn cư, mặc dù ông có nói “chỗ sâu lội dấn chừ cạn vén, dùng thì ra chừ bỏ thì náu”, mà đây hoàn toàn là việc làm của người quả dục, tri túc, biết “dừng chân” lại đúng thời đúng lúc trên đường quan, để trở về với cái sơ nguyên theo lẽ thường (phản phác). Vậy nên mới có tâm thái an nhàn, thoát tục dạo gót cùng núi sông mây nước: “Chống gậy rong chơi chừ ngoài cõi xa”. Đến đi, ăn ngủ không câu nệ hình thức, chủ động trong mọi hoàn cảnh:

“Cơ tắc xan hề hòa la phạn

Khốn tắc miên hề hà hữu hương”.

Dịch:

“Đói thì ăn chừ cơm bố thí

Mệt thì ngủ chừ chốn không làng”. (Lý Việt Dũng dịch)[8]

“Hà hữu hương” là mượn từ câu “Vô hà hữu chi hương” (Quê hương không ở nơi đâu có) của Trang tử. Ngữ này đồng nghĩa với “cố hương điền địa” hay “vô trụ xứ niết bàn” của nhà Phật. Từ đây, chúng ta có thể hình dung rõ sự tự tại của Thượng sĩ đến dường nào, dù chẳng phải là tín đồ thuần túy tu theo Lão – Trang nhưng từ phong thái cho đến tinh thần thì không chỗ nào chẳng giống với ẩn sĩ Đạo gia.

Ngoài ra, ta còn nhận thấy nơi cốt cách Thượng sĩ có một điều gì đó siêu việt hẳn Lão – Trang. Phải chăng đó là do sự thấm nhuần tinh thần của Thiền của Phật?

dpnn 48

3.

Phong thái đượm nhuần chất Thiền – chất Phật

Dù là tục gia cư sĩ nhưng Thượng sĩ sớm lãnh hội được tâm tông của Phật tổ từ Thiền sư Tiêu Dao, tiếp nối dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sở đắc của ông khó ai có thể dò xét được, ngay cả vua Trần Thánh Tông còn phải nể phục và tôn kính đạo hạnh của ông, chính danh hiệu
“Thượng sĩ” mà người đời thường gọi là do vua Thánh Tông ban tặng.

Trong khúc ngâm này, những nét đặc thù và sở đắc sở chứng về thiền của ông càng thể hiện rõ hơn. Trở lại đoạn:

“Cơ tắc xan hề hòa la phạn[9]

Khốn tắc miên hề hà hữu hương

Hứng thời xuy hề vô khổng địch[10]

Tịnh xứ phần hề giải thoát hương[11]

Quyện tiểu khế hề hoan hỷ địa[12]

Khát bảo xuyến hề tiêu dao thang”.

Dịch:

“Đói thì ăn chừ cơm bố thí

Mệt thì ngủ chừ chốn không làng

Lúc hứng thổi chừ sáo không lỗ

Nơi thanh tịnh đốt chừ giải thoát hương

Mỏi nghỉ chút chừ nơi vui vẻ

Khát uống đã chừ nước tiêu dao”. (Lý Việt Dũng dịch)[13]

Nếu phần trên ta thấy Thượng sĩ mang dáng vẻ của một Đạo sĩ thì phần này ta lại thấy chỗ hành xử của ông như một đệ tử nhà Phật. Bởi lẽ:

  • Khi đói thì đi khất bát nơi đàn việt tức sống bằng nếp hạnh của hàng xuất gia.
  • Khi khát thì uống nước tiêu dao tức trụ trong sự thảnh thơi, tự tại của người ly tục.
  • Khi có hứng thì thổi sáo không lỗ tức vui chơi trong niềm vui giác ngộ và vô ngại của nhà thiền.
  • Khi đến nơi thanh tịnh thì đốt nhang giải thoát (giải thoát hương), khi mệt mỏi thì nghỉ nơi vui vẻ (hoan hỷ địa), tức bước vào phẩm vị của hàng Bồ-tát.

Tất cả những điều kể trên đều thuộc về sở hành của hàng đệ tử Phật môn và ngay nơi đó cũng bọc lộ được phần nào sở đắc của Thượng sĩ. Phải chăng đó là cơ sở để khi bàn đạo hạnh về Thượng sĩ, vua Trần Nhân Tông không hết lời ca ngợi:

“Vọng chi di cao

Toàn chi di kiên

Hốt nhiên tại hậu

Chiêm chi tại tiền

Phù thị chi vị

Thượng sĩ chi thiền” (Tán Tuệ Trung Thượng Sĩ – Trần Nhân Tông)[14]

Dịch nghĩa: Nhìn lên thấy càng cao, khoan vào thấy càng cứng. Thoạt nhiên đang ở phía sau, nhìn lại thấy phía trước. Điều này mới chính là thiền của Thượng sĩ.

Nhưng dường như chưa dừng lại ở đó, Thượng sĩ còn cho chúng ta thấy sở ngộ của ông không thua kém với các bậc long tượng trong tông môn của Trung Hoa:

“Qui Sơn tác lân  hề mục thủy cổ

Tạ Tam đồng chu hề ca Thương Lang

Phỏng Tào Khê hề ấp Lư Thị

Yết Thạch Đầu hề sài Lão Bàng

Lạc ngô lạc hề Bố Đại lạc

Cuồng ngô cuồng hề Phổ Hóa cuồng”.

Dịch:

“Làm láng giềng Qui Sơn chừ chăn con trâu tơ

Cùng thuyền với Tạ Tam chừ hát khúc Thương Lang

Thăm Tào Khê chừ chào Lư thị

Viếng Thạch Đầu chừ bạn lão Bàng

Vui ta vui chừ Bố Đại vui

Cuồng ta cuồng chừ Phổ Hóa cuồng”. (Lý Việt Dũng dịch)[15]

Trên là hàng loạt điển tích về các thiền sư Trung Hoa. Ta có thể cảm nhận được sự khiêm hạ từ tác giả khi ta đọc qua đoạn này, Thượng sĩ thật khéo trong việc dùng điển tích để so sánh, từ đó bày tỏ phần nào chỗ ngộ chứng của mình.

  • Qui Sơn tức là thiền sư Đại An ở núi Qui, sư đắc pháp nơi thiền sư Bách Trượng Hoài Hải. Sư từng nói: “Đại An này ở núi Qui 30 năm, ăn cơm núi Qui, tiêu tiểu núi Qui, nhưng không học thiền núi Qui, chỉ chăn một con trâu tơ”[16].
  • Tạ Tam (835-908)  là tục danh của thiền sư Sư Bị ở Huyền Sa, thuở nhỏ sư thích câu cá và sống lênh đênh trên sông nước, sau xuất gia và đắc pháp nơi thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn (822-908). Khúc Thương Lang là khúc ca của người chài.
  • Lư thị là Lư hành giả, tức Lục tổ Huệ Năng (638-713). Tào Khê là đạo tràng của Lục tổ.
  • Lão Bàng là cư sĩ Bàng Uẩn (740-808). Thạch Đầu là tên một ngọn núi – nơi thiền sư Hy Nhiên (700-790) dựng thảo am, Bàng Uẩn thường lên xuống để hỏi đạo với sư.
  • Bố Đại (?-917) là thiền tăng triều Lương thời Ngũ Đại. Sư có thân hình mập mạp, trán nhăn, bụng phệ, nói năng thất thường, tùy chỗ nằm ngủ. Sư thường dùng gậy quải túi vải trên lưng khất thực, ai cho gì cũng nhận, sau đó đem đồ xin được phân chia cho trẻ con, vì thế trẻ con thường theo sư đùa giỡn. Sư là hóa thân của Di Lặc.
  • Phổ Hóa là thiền tăng đời Đường, quê quán và tuổi đời của sư không ai rõ. Sư là đệ tử của thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích, sư mật thọ và thâm nhập áo nghĩa của tông môn. Sau khi Bảo Tích viên tịch, sư đi du hóa, tính tình sư khác người, lời nói ngông cuồng, hành vi phóng khoáng, nơi ở bất định.

Những người mà tác giả dẫn ra đều là nhất đại tôn sư danh tiếng uy chấn một vùng. Nếu xét kỷ ta sẽ thấy, Thượng sĩ thấy mình là:

Bạn láng giềng của các thiền sư Đại An và cùng nhau chăn trâu tơ.

Bạn với lão chài thiền sư Sư Bị và cùng hát khúc Thương Lang.

Bạn với cư sĩ Bàng Uẩn.

Còn riêng Lục tổ Huệ Năng và thiền sư Hy Nhiên, Thượng sĩ viết: “Thăm Tào Khê, Viếng Thạch Đầu”, phải chăng ông xem hai vị này trên mình một bậc?

Và niềm vui hàng ngày của ông là niềm vui như thiền tăng Bố Đại; cái ngông cuồng, phóng khoáng là cái ngông cuồng của thiền tăng Phổ Hóa.

 Quả thật không sai, vừa khiêm cung lại vừa thể hiện rõ bản lĩnh oai hùng nơi Tông môn. Cần khẳng định “ta” là ai thì tức thời khẳng định, nhưng “ta” ấy là vô ngã vô nhân vô chúng sinh vô thọ giả. Đúng là tâm thái của một người bước qua khỏi ngưỡng sinh tử, nhận chân được bản lai diện mục:

“Phóng tứ đại hề mạc bả tróc

Liễu nhất sinh hề hưu bôn mang

Thích ngã nguyện hề đắc ngã sở

Sinh tử tương bức hề ư ngã hà phương”.

Dịch:

“Buông bỏ tứ đại chừ chớ có nắm

Xong một đời chừ thôi ngược xuôi

Thỏa nguyện ta chừ, đạt cái ta vốn thật

Sống chết bức nhau chừ hề hấn gì ta”. (Lý Việt Dũng dịch)[17]

Thượng sĩ không chỉ buông bỏ công danh sự nghiệp, vinh hoa phú quý (ngã sở) mà còn buông xả luôn tự thân mình (ngã), một khi tứ đại giai không thì chẳng còn chướng ngại gì. Đã “liễu nhất sinh” trong kiếp này, đã rõ ngọn nguồn của sinh tử trong đời này thì đâu còn bị chi phối, đâu còn sự sợ hải mà trái lại hoàn toàn tự tại với sống chết.

Không chỉ lời trong khúc ngâm này, ta còn bắt gặp thái độ ung dung trước sinh tử của Thượng sĩ trong Hành trạng Thượng sĩ do vua Trần Nhân Tông ngự bút: “Sau, người nhuốm bịnh ở Dưỡng Chân Trang, không nằm trong phòng riêng mà cho kê một chiếc giường gỗ giữa ngôi nhà bỏ trống và nằm theo tư thế kiết tường nhắm mắt mà tịch. Người hầu và thê thiếp trong nhà khóc rống lên. Thượng sĩ mở mắt ngồi dậy, gọi người lấy nước rửa tay, súc miệng và quở trách nhẹ rằng: “Sống chết là lẽ thường, làm gì phải xót thương quyến luyến làm rối chơn tính của ta?” Dứt lời, người an nhiên thị tịch”.[18]

Quả đúng là sống chết bức nhau chừ hề hấn gì ta”.

Như vậy, tuy tục gia cư sĩ nhưng tâm hạnh của Thượng sĩ rất khế hợp với hàng xuất gia nhà Phật. Và điều đáng nói ở đây, ông là người đã minh tâm kiến tính, sinh tử tự tại, chỗ giác ngộ của ông sánh ngang với các bậc thiền sư tiền bối Trung Hoa.

4.

Qua việc tìm hiểu về phong thái của Thượng sĩ Tuệ Trung trong Phóng cuồng ngâm, chúng ta phát hiện thêm nhiều điều mới mẻ về ông. Thượng sĩ vốn là người dung hợp chất Nho, chất Đạo, chất Phật một cách nhuần nhuyễn trong tư tưởng, nhưng riêng trong khúc ngâm này thể hiện sự hòa quyện giữa chất Lão – Trang và chất Phật – Thiền. Với bản thân, Thượng sĩ luôn sống theo nếp “quả dục, tri túc, phản phác, thuận tự nhiên” theo kiểu Đạo gia, bên cạnh đó nơi ông còn bọc lộ rõ rệt phẩm hạnh của một người Phật tử. Quan trọng hơn, Thượng sĩ là người đã nhận rõ bản lai diện mục, quay về an trụ nơi cố hương điền địa của mình mà chính khúc ngâm là một minh chứng xác thực về phong thái và tâm thái ngập tràn chất Phật và đượm nhuần hương Thiền của Thượng sĩ. Điều này đã khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của ông đối với Tông môn đời Trần nói riêng và Thiền tông nước ta nói chung:

“Giá lão cổ chùy

Nhân nan danh miểu

Lương Hoàng khúc xích

Thái đế đạc lịch

Năng phương năng viên

Năng hậu năng bạc

Pháp hải độc nhãn

Thiền lâm tam giác”. (Thượng Sĩ hành trạng – Trần Nhân Tông)[19]

Dịch:

“Đây bậc cổ chùy

Người đâu dễ vẽ

Thước góc Lương hoàng

Mõ chuông Thái đế

Hay tròn hay vuông

Mỏng dày đủ vẻ

Biển pháp một người

Rừng thiền ba phía”.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003
  2. Lý Việt Dũng, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (tập 1), Nxb. Hồng Đức, 2013
  3. Lý Việt Dũng, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (tập 2), Nxb. Hồng Đức, 2013
  4. Lý Việt Dũng, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (tập 3), Nxb. Hồng Đức, 2013
  5. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Thơ Văn Lý Trần tập 2, Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1988
  6. Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Nxb. Văn Hóa, 1994
  7. Nguyễn Hiến Lê, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Nxb. Văn Hóa, 1994
  8. Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, Nxb. Văn Hóa, 1995
  9. Ban Phật Giáo Việt Nam và Ban Phật Học Chuyên Môn, Thiền Học Đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1992
  10. Viện Khoa Học Xã Hội và Trung Tâm Nghiên Cứu Hán Nôm, Tuệ Trung Thượng Sĩ với Thiền Tông Việt Nam, Nxb. Đà Năng, 2000

 


[1] Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Nxb. Văn Hóa, 1994, tr.170

[2] Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Nxb. Văn Hóa, 1994, tr.225

[3] Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Nxb. Văn Hóa, 1994, tr.177

[4] Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003, tr.304

[5] Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003, tr.305

[6] Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Nxb. Văn Hóa, 1994, tr.228

[7] Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003, tr.304

[8] Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003, tr.304

[9] Hòa la phạn: cơm của đàn việt.

[10] Vô khổng địch: sáo không lỗ, tượng trưng cho trạng thái giác ngộ của Thiền tông.

[11] Giải thoát hương: một loại trong Ngủ phần hương (giới hương, định hượng, tuệ hương, giải thoát và giải thoát tri kiến)

[12] Hoan hỷ địa: một trong Thập địa của hàng Bồ-tát (hoan hỷ địa, ly cấu địa, phát quang địa, diệm tuệ địa, nan thắng địa, hiện tiền địa, viễn hành địa, bất động địa và pháp vân địa)

[13] Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003, tr.304

[14] Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Thơ Văn Lý Trần tập 2, Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1988, tr.485

[15] Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003, tr.304

[16] Lý Việt Dũng, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (tập 1), Nxb. Hồng Đức, 2013, tr.669

[17] Lý Việt Dũng, Tuệ Trung Thượng Sĩ dịch giải, Nxb. Mũi Cà Mau, 2003, tr.305

[18] Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Thơ Văn Lý Trần tập 2, Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1988, tr.547

[19] Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Thơ Văn Lý Trần tập 2, Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1988, tr.544

Cát Tường

Cát Tường đã viết 259 bài.